QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GĂNG TAY Y TẾ -
Top
Miễn phí vận chuyển cho các đơn hàng
Cam kết chất lượng sản phẩm
Tư vấn trực tiếp
0962236804
Hỗ trợ & tư vấn
0962236804
Hỗ trợ các vấn đề khác
nguyenkhangevce@gmail.com

QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GĂNG TAY Y TẾ

Nước thải trong nhà máy cao su chủ yếu được sinh ra trong quá trình sản xuất như quá trình ly tâm mủ, chế biến mủ nước, đánh bông, chế biến mủ tạp nhưng âm, rửa mủ tạp.Nước thải phát sinh trong quá trình vệ sinh thiết bị, nhà xưởng, rửa xe vận chuyển cao su. Nước thải phát sinh từ quá trình sinh hoạt của công nhân trong nhà xưởng.

Thành phần, tính chất nước thải:

Nước thải cao su chứa nồng độ chất ô nhiễm cao được mô tả trong bảng dưới đây:

Thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước thải cao su

Từ bảng trên cho thấy, hàm lượng chất ô nhiễm có trong nước thải cao su cao hơn rất nhiều so với ngưỡng cho phép ở cột B – QCVN 01-MT:2015/BTNMT (Quy chuẩn Việt Nam về nước thải chế biến cao su thiên nhiên).

Do đó, có rất nhiều phương pháp, công nghệ để xử lý loại nước thải này.

QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CAO SU

Đối với nước thải cao su, Công ty TNHH Công Nghệ Môi Trường Nguyên Khang xin chia sẻ một công nghệ xử lý loại nước thải này đến với các bạn.

Quy trình công nghệ xử lý nước thải cao su được mô tả trong hình bên dưới:

Khi nhà máy hoạt động sẽ phát sinh ra 2 dòng nước thải:

  • Dòng nước thải 1: nước thải còn chứa lượng mủ (vệ sinh bồn, phối trộn nguyên liệu)
  • Dòng nước thải 2: gồm nước thải từ nhà vệ sinh, nhà ăn (nếu có) và các công đoạn sản xuất không có mủ (quy trình nhúng găng tay, bằng truyền)

Do tính chất 2 dòng nước thải này khác nhau vì thế cần phải phân dòng và xử lý sơ bộ dòng 1, trước khi đưa vào hệ thống xử lý.

Dòng nước thải 1 sẽ được thu gom bởi bể gom 1 về Bể xử lý mủ sau đó được bơm về Bể điều hòa 1 và đi vào Cụm hóa lý 1 để xử lý tiếp tục

Dòng nước thải 2 là Nước thải sản xuất không chứa mủ được thu gom theo đường ống dẫn về bể gom 2. Sau đó nước thải được bơm luân phiên đến bể điều hòa 2. Trước khi vào bể điều hòa, nước thải sẽ qua tách rác tinh (khe 2mm) để loại bỏ các rác có kích thước > 2mm.

Bể điều hòa 2 có nhiệm vụ điều hòa về lưu lượng và nồng độ hữu cơ trong nước thải nhằm tránh gây quá tải cho vi sinh vật trong các bể phía sau. Bể điều hòa làm giảm kích thước và tạo chế độ làm việc ổn định cho các công trình phía sau, tránh hiện tượng quá tải. Nhờ vào lượng khí cung cấp từ máy thổi khí, nước thải được xáo trộn đều và tránh sự lắng cặn trong bể, tránh hiện tượng phân hủy kị khí tạo mùi hôi. Nước thải từ bể điều hòa sẽ được bơm đến công trình xử lý tiếp theo là hệ keo tụ - tạo bông.

Dòng nước thải 1 sau khi xử lý sơ bộ và dòng nước thải 2 sau khi được dẫn về bể điều hòa 1+2 tiếp theo nước thải được dẫn qua bể keo tụ. Tại đây nước thải được chỉnh pH về giá trị thích hợp, pH được điều chỉnh bằng hoá chất trung hoà pH. Sau đó hoá chất keo tụ - PAC được châm vào làm chất keo tụ các chất dầu mỡ, nhũ tương còn lại trong nước thải (dầu mỡ rất khó xử lý và ảnh hưởng trực tiếp đến hệ vi sinh vì vậy cần xử lý triệt để dầu mỡ trước khi vào hệ xử lý vi sinh). Tiếp theo hoá chất Polymer được châm vào bể tạo bông làm chất trợ keo tụ giúp kết bông bùn to hơn. Nước sau khi qua bể keo tụ - tạo bông được chảy về bể tuyển nổi vi bọt. Quá trình tuyển nổi là quá trình tách các hạt nhũ tương hoặc dầu mỡ có trong nước thải. Quá trình này được thực hiện bằng cách đưa các bọt khí mịn vào nước thải. Bọt khí mịn bám dính vào các hạt lơ lửng , tạo nên lực đẩy nổi đủ lớn đưa hạt nổi lên bề mặt pha lỏng (nước thải). Khí đưa vào ở dạng hòa tan dưới áp suất lớn hơn áp suất khí quyển (từ 275 – 350 kPa). Sau đó, khi giảm áp suất xuống bằng áp suất khí quyển, bọt khí mịn hình thành. Quá trình tăng áp được thực hiện bằng bơm cao áp và bồn tạo áp. Thời gian lưu nước ở cột áp lực từ 2-5 phút, lượng khí cấp vào từ 2-3% lưu lượng nước thải. Nước qua bồn tạo áp tiếp tục qua van giảm áp đến bể tuyển nổi. Với thời gian lưu nước một giờ, khí hòa tan tách ra khỏi nước thải thành các bọt khí mịn. Các bọt khí này lôi kéo nhũ dầu hoặc cặn lơ lửng lên bề mặt tạo nên lớp váng nổi. Lớp váng này được gạt thường xuyên vào máng thu váng nổi và dẫn đến bể Chứa ván nổi để cô đặc trước khi đến bể nén bùn. Phần nước trong tự chảy vào bể sinh học thiếu khí Anoxic, trong quá trình đó nước thải được bổ sung dinh dưỡng bằng bơm định lượng để duy trì hoạt động của vi sinh ở những công đoạn tiếp theo.

Bể sinh học thiếu khí Anoxic giúp phân huỷ hợp chất hữu cơ và để khử Nitrat (xử lý Nitơ) trong điều kiện thiếu khí. Quá trình sinh học diễn ra nhờ các vi sinh vật sử dụng Nitrat, Nitrite làm chất oxy hóa để sản xuất năng lượng. Trong bể Anoxic, quá trình khử Nitrat sẽ diễn ra theo phản ứng:

6NO3- + 5CH3OH → 5CO2 + 3N2 + 7H2O + 6OH-

Trong bể Anoxic thiết kế dòng xáo trộn để xáo trộn đều dòng nước thải và dòng bùn sinh học tuần hoàn từ bể lắng sinh học. Trong bể giúp bọt khí N2 (từ quá trình khử Nitrat) dễ dàng thoát lên khỏi mặt nước. Sau đó nước thải từ bể Anoxic tiếp tục qua bể sinh học hiếu khí để khử các hợp chất hữu cơ COD, BOD5.

Bể Aerotank sinh học hiếu khí là nơi diễn ra song song 2 quá trình: phân huỷ hợp chất hữu cơ, quá trình Nitrat hoá trong điều kiện cấp khí nhân tạo.

Quá trình Nitrate hóa là quá trình oxy hóa các hợp chất chứa Nitơ, đầu tiên là Ammonia thành Nitrite sau đó oxy hóa Nitrite thành Nitrate. Quá trình Nitrate hóa ammonia diễn ra trong bể sinh học theo 2 bước sau:

  • Bước 1: Ammonium được chuyển thành nitrite được thực hiện bởi Nitrosomonas:

          NH4+ + 1.5 O2 → NO2- + 2 H+ + H2O

  • Bước 2: Nitrite được chuyển thành nitrate được thực hiện bởi loài Nitrobacter:

NO2- + 0.5 O2 → NO3-

Trong bể sinh học các vi sinh vật (VSV) hiếu khí sử dụng oxi được cung cấp chuyển hóa các chất hữu cơ hòa tan trong nước thải một phần thành vi sinh vật mới, một phần thành khí CO2 và NH3 bằng phương trình phản ứng sau:

VSV + C5H7NO2 (chất hữu cơ) + 5O2 → 5CO2 + 2H2O + NH3 + VSV mới

Nước thải chảy liên tục vào bể sinh học trong đó khí được đưa vào cùng xáo trộn với bùn hoạt tính, cung cấp oxy cho vi sinh phân hủy chất hữu cơ. Dưới điều kiện như thế, vi sinh sinh trưởng tăng sinh khối và kết thành bông bùn. Hỗn hợp bùn hoạt tính và nước thải gọi là dung dịch xáo trộn (mixed liquor). Hỗn hợp này chảy tràn đến bể lắng nhằm tiến hành quá trình tách nước và bùn.

Bể lắng bùn sinh học có nhiệm vụ lắng và tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải. Bùn sau lắng một phần được tuần hoàn về bể sinh học nhằm duy trì lượng bùn thích hợp, giúp vi sinh vật trong bể sinh học hoạt động tốt hơn, đáp ứng yêu cầu xử lý đặt ra. Một phần được bơm về bể chứa bùn sinh học để dùng máy ép bùn xử lý.

Phần nước sau lắng được khử trùng bằng dd khử trùng tại bể khử trùng và được dẫn thẳng ra nguồn tiếp nhận (Cột B, QCVN 40:2011/BTNMT).

Phần bùn hóa lý tại Tuyển nổi được dẫn về bể chứa bùn hóa lý, bùn sinh học được dẫn về bễ chứa bùn sinh học. Tại bể chứa bùn thì bùn sẽ được cô đặc trong đó phần nước dẫn về bể điều hòa phần bùn được tiếp tục tách nước bằng máy ép bùn băng tải và được xử lý theo quy định.

Hình ảnh công trình xử lý nước thải găng tay y tế mà Nguyên Khang đã thực hiện:

Liên hệ để được tư vấn:

Văn phòng Công Ty TNHH Công Nghệ Môi Trường Nguyên Khang

Địa chỉ : 257/1/16 đường 3/2, Phường 10, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại : 028 6290 3279 – Fax: 028.6264 5838 Di động : 0962 236 804 ( Mr Trưởng)

Email : nguyenkhang.ev@gmail.com

Wed : www.nkce.vn - www.moitruongnguyenkhang.com.vn

Xưởng sản xuất: Ấp 4, Xã. Xuân Thới Sơn, Huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.

0962236804